XI. Âm nhạc ngũ cung
Âm nhạc ngũ cung ở Á châu bắt nguồn từ Trung Quốc, âm nhạc ngũ cung là hệ thống năm nốt nhạc được gắn liền với tâm linh và thiên nhiên. Giai điệu âm nhạc ngũ cung thường tạo ra cảm giác yên bình, tĩnh lặng.
Âm nhạc ngũ cung và hệ thống pentatonic của Âu Mỹ sử dụng năm nốt, tạo ra cấu trúc đơn giản và dễ nhớ. Giai điệu ngũ cung thường được tích hợp vào âm nhạc Tây Phương, đặc biệt trong các dự án giao thoa âm nhạc.
Âm nhạc ngũ cung không chỉ là biểu tượng của văn hóa Á Châu mà còn là nguồn cảm hứng toàn cầu, chứng minh sức mạnh của âm nhạc trong việc giao thoa và làm phong phú nền văn hóa âm nhạc trên thế giới.
Trong chương này ta sẽ không xem xét những áp dụng đặc biệt của âm nhạc ngũ cung trên nhạc cụ địa phương (đàn bầu, đàn cò, đàn guita phím lõm, …) mà chỉ nghiên cứu nhạc ngũ cung để áp dụng vào hòa âm và sáng tác qua hệ thống và ký hiệu âm nhạc phương Tây.
Thang âm Pentatonic
Thang âm Pentatonic trong âm nhạc phương Tây
Thang âm pentatonic là một trong những thang âm quan trọng và phổ biến nhất trong âm nhạc blues, rock, jazz, và nhiều thể loại âm nhạc ngũ cung. Thang âm này được sử dụng rộng rãi vì sự đơn giản và tính linh hoạt của nó.
Thang âm pentatonic được gọi là “penta” (nghĩa là năm) vì nó bao gồm 5 nốt nhạc chính. Được hình thành bằng cách chồng những nốt quãng 5 lên nhau và gom tất cả các nốt đó lại trong một quãng tám, như sau:
Trong ví dụ trên ta đã chọn chủ âm là nốt Đô. Sau đó ta chồng những nốt quãng 5 lên trên nốt Đô, là các nốt Sol, Rê, La, Mi, và gom chúng vào một quãng tám. Ta đã tạo nên thang âm pentatonic với các nốt Đô, Rê, Mi, Sol, La.
Trong âm nhạc phương tây, thang âm pentatonic được dùng rất nhiều với hai biến thể Trưởng và Thứ.
Quãng ba trưởng trong thang âm trên được dùng làm tên của thang âm: ta gọi thang âm trên là thang âm pentatonic Trưởng.
Trong thang âm Đô pentatonic Trưởng, nếu ta chọn nốt La làm chủ âm thì ta có chuỗi nhạc La, Đô, Rê, Mi, Sol: đây là thang âm La pentatonic Thứ
Hai thang âm pentatonic Trưởng và Thứ trên một hệ thống không có thăng giáng được ghi lại như sau:
Pentatonic trưởng thường mang đến một cảm giác lạc quan, trong khi Ngũ cung thứ thường mang đến cảm giác biểu cảm và sâu sắc.
Thang âm pentatonic có xu hướng lặp lại ở nhiều vị trí trên các phím đàn guitar, tạo ra một mô hình dễ nhận biết và dễ sử dụng khi ngẫu hứng. Nghệ sĩ thường sử dụng thang âm pentatonic để tạo ra các giai điệu trong phần solo. Sự đơn giản của thang âm này cung cấp cho họ không gian để thể hiện sự sáng tạo và biểu cảm cá nhân của mình.
Thang âm pentatonic là một công cụ mạnh mẽ cho nghệ sĩ âm nhạc để thể hiện sự sáng tạo và biểu cảm của họ. Sự đơn giản và tính linh hoạt của nó đã làm cho nó trở thành một trong những thang âm phổ biến nhất và được sử dụng rộng rãi trong thế giới âm nhạc.
Thang âm pentatonic và âm nhạc truyền thống phương Đông
Âm nhạc ngũ cung, dựa trên thang âm pentatonic, đóng một vai trò quan trọng trong nền âm nhạc truyền thống phương Đông, bao gồm các văn hóa âm nhạc của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và nhiều quốc gia khác trong khu vực. Pentatonic được xem là thang âm cơ bản của âm nhạc ngũ cung được sử dụng rộng rãi và có mặt ở nhiều thể loại nhạc truyền thống và hiện đại.
Sau đây ta sẽ tìm hiểu âm nhạc cổ truyền của Trung quốc và Việt nam và sự tương quan giữa các hệ thống nhạc ngũ cung phương Đông với thang âm pentatonic.
Thang âm ngũ cung trong âm nhạc Trung quốc
Thang âm ngũ cung là một hệ thống âm nhạc truyền thống trong nền văn hóa âm nhạc của Trung Quốc. Hệ thống này được sử dụng để đặt ra các cấu trúc âm thanh cơ bản, tương ứng với năm yếu tố cơ bản là kim, mộc, thuỷ, hỏa, và thổ. Mỗi yếu tố này liên kết với một âm thanh cụ thể, tạo ra một hệ thống âm thanh và nhạc lý có ảnh hưởng sâu sắc đến âm nhạc truyền thống Trung Quốc.
Đặc Điểm Của Thang Âm Ngũ Cung
Liên Kết Với Thang Âm Pentatonic
Thang âm ngũ cung được kết hợp với thang âm pentatonic trong âm nhạc truyền thống Trung Quốc. Sự kết hợp này tạo ra một cấu trúc âm thanh phong phú và sâu sắc, giúp biểu diễn đa dạng cảm xúc và tâm trạng.
Nhạc Cụ Truyền Thống
Sử Dụng Trong Đàn Tranh, Đàn Nguyệt: Thang âm ngũ cung thường được áp dụng trong việc chơi các nhạc cụ truyền thống như đàn tranh và đàn nguyệt. Sự linh hoạt của thang âm này cho phép nghệ sĩ thể hiện những giai điệu truyền thống một cách sâu sắc.
Phản Ánh Triết Lý Văn Hóa
Hệ thống ngũ cung không chỉ là một phần của âm nhạc mà còn phản ánh triết lý và tư tưởng của người Trung Quốc. Mỗi yếu tố được xem như một biểu tượng của sự cân bằng và hòa quyện trong tự nhiên và cuộc sống.
Đại Diện Cho Lịch Sử Văn Hóa
Thang âm ngũ cung là một biểu tượng của lịch sử và văn hóa Trung Quốc, gắn liền với những giai thoại và truyền thống âm nhạc. Sự phát triển và giữ gìn của hệ thống này là một phần quan trọng của di sản âm nhạc Trung Quốc.
Thang âm ngũ cung không chỉ là một phần của di sản văn hóa mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc hiểu và truyền đạt sự đa dạng và sâu sắc của âm nhạc truyền thống Trung Quốc.
Thang âm truyền thống Trung Quốc
Trong âm nhạc truyền thống Trung Quốc, thang âm ngũ cung được dùng là thang âm pentatonic. Thang âm pentatonic này bao gồm năm nốt nhạc chính, thường được ký hiệu là 1, 2, 3, 5, và 6, và nó được kết hợp một cách tinh tế với ngũ cung, mỗi yếu tố tượng trưng cho một khía cạnh cụ thể của tự nhiên và cuộc sống.
Năm âm thanh trong ngũ cung Trung Quốc mang tên Cung, Thương, Giốc, Chủy và Vũ. Khoảng cách giữa các âm thanh này như sau :
| CUNG | THƯƠNG | GIỐC | CHỦY | VŨ | CUNG | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 2 NC | 2 NC | 3 NC | 2 NC | 3 NC |
NC = nửa-cung
Dùng ký hiệu ghi chú tây phương, chọn chủ âm là Đô thì thang âm ngũ cung Trung Quốc chính là thang âm pentatonic đã biết bên trên:
Tùy theo bối cảnh âm nhạc, năm nốt nhạc ngũ cung có thể dựa trên một chủ âm khác trên âm nhạc phương Tây. Quan trọng là phải giữ đúng khoảng cách giữa các nốt nhạc với nhau theo công thức : 2 2 3 2 3 (nửa cung)
Tương truyền, sau này, Văn Vương thêm hai âm phụ là Biến Cung và Biến Chủy. Biến Cung tương đương Si (B) và Biến Chủy tương đương Fa (F). Do đó chúng tạo thành thất âm, tương tự «diatonic» của phương Tây.
Bảy nốt nhạc Trung Quốc khi đó trở thành :
- Cung – Thương – Giốc – Biến Chủy – Chủy - Vũ – Biến Cung – Cung
Tương đương với :
- Đô - Rê - Mi - Fa - Sol - La - Si - Đô
Thang âm và điệu thức ngũ cung Trung Quốc
Sự phong phú của năm âm thanh chính trong hệ thống âm nhạc ngũ cung Trung Quốc dựa trên những điệu thức thoát thai từ thang âm ngũ cung.
Tương tự như âm nhạc điệu thức phương Tây, các điệu thức của âm nhạc ngũ cung Trung Quốc được hình thành bằng cách chọn những chủ âm khác nhau trong thang âm ngũ cung.
Cung là điệu thức đầu tiên trong thang âm ngũ cung. Kế tiếp là Thương rồi đến Giốc, Chủy Vũ. Các điệu thức này được diễn tả trong văn hóa Trung Quốc như sau :
Điệu Cung
Cảm Xúc: Tích cực và bình yên..
Sự Mô Tả: Điệu Cung thường mang lại cảm giác của một không gian trang nghiêm và tôn trọng. Âm thanh của nó có thể tạo ra sự ổn định và bình tĩnh, làm cho người nghe cảm thấy yên bình và trấn an.
Điệu Thương
Cảm Xúc: Hứng khởi và năng động.
Sự Mô Tả: Điệu Thương thường tạo ra cảm giác hứng khởi và năng động. Nó được sử dụng trong những bản nhạc vui nhộn và lạc quan.
Điệu Giốc
Cảm Xúc: Năng động, linh hoạt, đầy năng lượng.
Sự Mô Tả: Điệu Giốc thường mang lại cảm giác sôi động và năng động. Âm thanh của nó có thể kích thích trạng thái tinh thần, làm cho người nghe cảm thấy hứng khởi và nhiệt huyết.
Điệu Chủy
Cảm Xúc: Tĩnh lặng, trầm tĩnh, sâu sắc.
Sự Mô Tả: Điệu Chủy thường mang lại cảm giác của một không gian yên bình và sâu sắc. Âm thanh của nó có thể tạo ra sự tĩnh lặng và tâm trạng sâu xa, đưa người nghe vào trạng thái tâm hồn yên bình.
Điệu Vũ
Cảm Xúc: Nhẹ nhàng, bay bổng, tinh tế.
Sự Mô Tả: Điệu Vũ thường mang lại cảm giác của sự nhẹ nhàng và bay bổng. Âm thanh của nó có thể tạo ra một không khí tinh tế và tao nhã, làm cho người nghe cảm thấy thoải mái và nhẹ nhàng.
Các điệu thức trên có thể được ghi lại với Điệu Cung có chủ âm Đô như sau :
Để phân biệt rõ ràng những cảm xúc tạo ra của mỗi điệu thức trên, ta dùng phương pháp chuyển âm, đưa 5 điệu thức trên về lại cùng một chủ âm Đô như sau :
Hãy cảm nhận những giai điệu khác nhau được tạo ra từ mỗi điệu thức trên.
Thang âm ngũ cung trong âm nhạc Việt Nam
Âm nhạc ngũ cung, trong truyền thống âm nhạc Á Đông, đặc biệt là Trung Quốc và Việt Nam, có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng có những đặc trưng riêng biệt phản ánh bản sắc văn hóa của từng quốc gia.
Âm nhạc ngũ cung Việt Nam được kết hợp với các yếu tố văn hóa, như truyền thống dân gian, các nghi lễ tôn giáo như lễ hội tết Nguyên Đán, và trong các hoạt động nghệ thuật truyền thống. Nhạc cổ truyền Việt Nam sử dụng nhiều loại nhạc cụ truyền thống như đàn tranh, đàn bầu, và đàn nguyệt. Các nhạc cụ này mang đến âm thanh độc đáo và riêng biệt. Ngoài ra nhạc cổ truyền Việt Nam có sự biến thể theo từng địa phương, ví dụ như âm nhạc Huế, âm nhạc dân gian Bắc Bộ, hoặc âm nhạc dân gian Nam Bộ.
Âm nhac ngũ cung Việt Nam cũng được dựa trên 5 điệu thức cơ bản như trong âm nhạc ngũ cung Trung Quốc và được làm phong thú thêm bởi các điệu thức đặc trưng của nền văn hóa Việt nam. Điệu thức “chính” giữa 2 nền văn hóa không giống nhau. Âm nhạc cổ truyền của dân ta chọn điệu thức chính là là điệu Bắc, đặt nặng lên cảm nhận bình an trong tâm hồn, tương đương với điệu Chủy trong âm nhạc Trung Quốc.
Tên các nốt nhac
Có 5 nốt nhạc chính trong âm nhạc ngũ cung Việt Nam. Các chữ nốt trong âm nhạc ngũ cung Việt nam :
-
Hò Xự Xang Xê Cống Liu Ú
-
Hò là chủ âm
-
Liu = Hò + quãng 8
-
Ú = Xự + quãng 8
-
-
Dựa trên hệ thống âm nhạc tây phương thì Hò có thể là Đô , (hoặc Sol, …)
-
Hò Xự Xang Xê Cống Liu Ú
-
Đô Rê Fa Sol La Đố Rế (chọn chủ âm là Đô)
-
Sol La Đô Rê Mi Sol Lá (chọn chủ âm là Sol)
-
-
Tùy theo điệu thức, có thể thêm nốt nhạc đặc biệt : âm Oan (hoặc Phàn) . Cao độ của âm Oan = Cống # (hay La# hoặc Sib)
Thang âm và điệu thức ngũ cung Việt Nam
Dưới đây là tương đương giữa các điệu thức Việt Nam và Trung Quốc:
-
Điệu Bắc: tương đương với điệu Chủy
-
Điệu Ai: tương đương với điệu Vũ
-
Dây Hò 3: tương đương với điệu Cung (còn gọi là Hoàng Chung)
-
Điệu Xuân: tương đương với điệu Thương
-
Hơi Oán: tương đương với điệu Giốc
Các điệu thức trong âm nhạc ngũ cung Việt Nam được ghi lại trên hệ thống nốt nhạc phương Tây như sau:
Áp dụng phương pháp chuyển về âm chủ Đô, ta có 5 điệu thức chính ngũ cung Việt Nam như sau:
Sự phong phú của âm nhạc ngũ cung Việt Nam còn được tăng thêm nhờ vào các điệu thức địa phương sau đây :
Các điệu thức « địa phương » này đã mang lại một sự độc đáo trong âm nhạc Việt Nam. Nghe một điệu Vọng Cổ, hay Tây Nguyên thì ta thấy rõ hồn nhạc phản ảnh rõ ràng lại địa phương từ đó âm nhạc đã xuất phát.
Nhạc sĩ Phạm Duy đã để lại những nhạc phẩm mang nặng hồn dân tộc qua các nhạc phẩm sau :
-
Qua cầu gió bay : Điệu Xuân
-
Lý trống cơm : Điệu Bắc và Hò 3
-
Hái hoa : Điệu Xuân
-
Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi : Hò 3
-
Đi Đâu Cho Thiếp Theo Cùng (Trường ca Con Đường Cái Quan) : Điệu Vọng Cổ
-
…
Hợp âm cho âm nhạc ngũ cung Trung Quốc và Việt Nam
Dùng những nốt trong thang âm ngũ cung ta dựng nên bảng hợp âm dưới đây :
| Hò 3 (Cung) | I Căng 9,13 |
II7 (omit3) Căng 9, 11 |
III-7 (omit5) Căng 11, b13 |
V6 (omit 3) Căng 9, 11 |
VI-7 |
|---|---|---|---|---|---|
| Xuân (Thương) | I7 (omit3) Căng 9, 11 |
II-7 (omit5) Căng 11, b13 |
IV6 (omit 3) Căng 9, 11 |
V-7 | bVIIç Căng 9,13 |
| Oán (Giốc) | I-7 (omit5) Căng 11, b13 |
bIII6 (omit 3) Căng 9, 11 |
IV-7 | V Căng 9,13 |
bVI7 (omit3) Căng 9, 11 |
| Bắc (Chủy) | I6 (omit 3) Căng 9, 11 |
II-7 | IV Căng 9,13 |
V7 (omit 3) Căng 9, 11 |
VI—7 (omit5) Căng 11, b13 |
| Ai (Vũ) | I-7 | bIII Căng 9,13 |
IV7 (omit 3) Căng 9, 11 |
V-7 (omit5) Căng 11, b13 |
V6 (omit 3) Căng 9, 11 |
| Vọng Cổ | I-6 | bIII6 | IV7 | V+sus4 Căng 9 |
VI-7(b5) |
| Tây Nguyên | IM7 | III-7 | IVM7(no3) Căng 9 |
V6 Căng 11 |
VII-7(b5, omit 3) |
Các hợp âm trên bảng trên chứa 3 hoặc 4 nốt cơ bản và các nốt căng có thể thêm vào hợp âm tùy theo ý của người sáng tác.
Ví dụ nếu ta dùng nốt Đô làm nốt chủ trong điệu Hò 3 thì trong các hợp âm của điệu Hò 3 sẽ như trong bảng sau :
| Bậc | Hợp âm | Nhận xét | Nốt căng dùng được |
|---|---|---|---|
| I | C | Đô trưởng | 9 và 13 (Rê và La) |
| II | D7 (omit3) | Rê thứ 7 nhưng không có nốt Fa#. | 9 và 11(Mi và Sol) |
| III | E-7 (omit5) | Mi thứ 7 nhưng không có nốt Si | 11 và b13 (La và Đô) |
| V | G6 (omit 3) | Sol 6 nhưng không có nốt Si | 9 và 11 (La và Đô) |
| VI | A-7 | La thứ 7 | Không có |
Trên piano, những hợp âm trong bảng trên sẽ được chơi dễ dàng.
Trên guitar, ví dụ trên được ghi lại như sau :
Thực hành
1. Viết thang âm 8 điệu thức ngũ cung Việt nam với nốt chủ là D
2. Trên nhạc cụ của bạn :
-
Hãy chơi các điệu thức trên để làm quen với âm thanh của 5 điệu thức chính
-
Chơi các điệu thức Vọng cổ và Tây nguyên